Giọt Hồng Trong Chén **

** Xin phỏng dịch bài ” Bôi Trung Huyết Trích ” cúa thi sĩ Trần văn Lương sang Lục bát
Dạo

Vì cơm áo đày thân nơi xứ lạ
quay đầu về Cố Quốc tháng Tư đau

******
Rượu thèm nhưng uống cùng ai
bạn xưa sót lại chén mài đơn côi
người thì xương rã núi đồi
kẻ chôn xác biển lẻ loi lạnh lùng
dấu xưa trốn chạy hãi hùng
phận nay áo gấm bung xung về làng
nhấc bầu định rót ngỡ ngàng
đáy ly giọt máu vừa lan – lệ mờ
———————–

杯中血滴

欲 飮 没 人 陪,
舊 朋 一 隻 罍.
深 山 埋 破 骨,
大 海 葬 寒 灰,
昔 日 登 舟 走,
今 天 戴 錦 囬.
舉 壺 將 酌 酒,
血 滴 落 空 杯.
陳 文 良

Âm Hán Việt:

Bôi Trung Huyết Trích

Dục ẩm, một nhân bồi,
Cựu bằng: nhất chích lôi.
Thâm sơn mai phá cốt,
Đại hải táng hàn hôi,
Tích nhật đăng chu tẩu,
Kim thiên đái cẩm hồi.
Cử hồ tương chước tửu,
Huyết trích lạc không bôi.
Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Giọt Máu Trong Chén

Rượu muốn uống, nhưng không có ai tiếp,
Bạn bè cũ (giờ chỉ còn lại) một cái chén.
(Vì, đứa thì) rừng sâu chôn xương vỡ,
(Đứa thì) biển lớn vùi tro lạnh.
(Đứa thì) ngày xưa lên thuyền chạy trốn,
Nay đội gấm trở về.
Nhấc bầu rượu lên sắp rót,
Giọt (lệ) máu rớt vào trong chén không.

Phỏng dịch thơ:

Giọt Hồng Trong Chén

Rượu muốn uống, không người cùng đối ẩm,
Bạn bè xưa, quanh quẩn chẳng còn ai.
Đứa rừng sâu xương rã đã lâu ngày,
Đứa đau đớn vùi thây trong biển cả,

Đứa lúc trước, đường vượt biên tơi tả,
Nay về làng, hể hả gấm thêu hoa.
Bầu nâng chưa kịp rót, lệ chan hòa,
Từng giọt máu vỡ òa trong chén cạn.
Trần Văn Lương
Cali, mùa Quốc Hận 4/2011

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn
Thu Apr 14, 2011 6:27 pm

 

Ngóng Xuân

Vọng Xuân- phỏng dịch sang Lục bát

Vọng Xuân
Hạo hạo đông lâm mạn thảo điền,
Đào hoa lão điểu đãi tân niên.
Quan hầu đái ảnh phong đầu khiếu,
Bệnh tảo hàm sương thủy bạn miên.
Tráng sĩ cùng đồ, thi mãn địa,
Anh hùng mạt lộ, hận thao thiên.
Xuân huy vị đáo, hoa cuồng phóng,
Điểu tử, hàn lô vọng cố viên.
Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Ngóng Xuân
Mênh mông mưa dầm mùa đông làm ướt sũng ruộng cỏ,
Hoa đào và con chim già (cùng) đợi năm mới.
Con khỉ góa vợ đội bóng mình gào khóc trên đầu núi,
Rong rêu bệnh hoạn ngậm sương nằm ngủ ven bờ nước.
Tráng sĩ cùng đường, xác (nằm) đầy đất.
Anh hùng cuối nẻo, nỗi hận ngập trời.
Nắng xuân chưa đến (mà) hoa đã điên cuồng nở,
Con chim chết, (nhưng) tròng mắt lạnh (vẫn) ngóng về vườn cũ.

Phỏng dịch thơ:

Ngóng Xuân

Mưa Đông lạnh đầm đìa trên xác cỏ,
Con chim già, cánh đào nhỏ chờ Xuân.
Đầu non cao, khỉ góa khóc vang rân,
Rong rêu úa lịm dần bên bến đục.

Tráng sĩ sa cơ, xương nằm chen chúc,
Anh hùng mạt lộ, oán ngút trời xanh.
Xuân chưa sang, hoa vội thắm rực cành,
Con chim chết, mắt buồn canh lối cũ.
Trần Văn Lương
Cali, Xuân Tân Mão, 2/2011

——————-
Xin mạn phép của Thầy Đồ TVL mà phỏng dịch bài ” Vọng Xuân ” sang lục bát huynh nhé

Ngóng Xuân

Mưa đông ướt đẫm cỏ xanh
chim già cùng đợi với cành đào , Xuân
trên non khỉ goá khóc thân
dưới bờ rong úa thiếp dần bên mương
sa cơ tráng sĩ phơi xương
anh hùng cuối nẽo ngậm hờn oán câm
chưa xuân hoa lại thắm cành
để con chim chết mắt canh lối về .

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn
Thu Mar 10, 2011 8:35 am

Manh Quy

盲 龜
淒 風 嫋 嫋 擾 漁 燈,
月 淡 盲 龜 繹 葛 藤.
白 眼 茫 茫 千 古 惑,
癡 心 冷 冷 萬 年 冰.
秋 雰 久 掩 庭 前 樹,
俗 客 難 尋 畫 裏 僧.
風 息 月 輪 沈 靜 海,
盲 龜 忽 搨 翅 高 陞.
陳 文 良

Âm Hán Việt:

Manh Quy

Thê phong niệu niệu nhiễu ngư đăng,
Nguyệt đạm, manh quy dịch cát đằng.
Bạch nhãn mang mang thiên cổ hoặc,
Si tâm lãnh lãnh vạn niên băng.
Thu phân cửu yểm đình tiền thụ,
Tục khách nan tầm họa lý tăng.
Phong tức, nguyệt luân trầm tĩnh hải,
Manh quy hốt tháp sí cao thăng.
Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Con Rùa Mù (1)

Gió thê lương nhè nhẹ quấy rối ngọn đèn câu,
Trăng nhạt, con rùa mù (đang) gỡ những dây leo chằng chịt.
Đôi mắt trắng man mác một nỗi mê mờ thiên cổ,
Con tim ngu si mang cái lạnh của tảng băng vạn năm.
Sương thu (đã) che kín từ lâu cây bách trước sân, (2)
Khách tục khó mà tìm ra được vị tăng trong bức tranh. (3)
Gió ngừng, mặt trăng chìm trong đáy biển im lặng,
Con rùa mù chợt chắp cánh bay cao.

Phỏng dịch thơ:

Con Rùa Mù

Lửa chài theo gió rét buồn lay,
Trong lưới, rùa mù gắng trở xoay.
Chấp trước, lòng si thêm lạnh lẽo,
Mê mờ, mắt trắng mãi loay hoay.
Thân cây bách cũ, sương đà khuất,
Mặt vị tăng xưa, khách chửa hay.
Gió lặng, trăng khuya chìm đáy biển,
Rùa mù chợt chắp cánh cao bay.
Trần Văn Lương
Cali, 10/2010

Phỏng dịch sang lục bát 

Gió lay đẩy ngọn đèn câu

Rùa mù gỡ sợi muộn sầu bỏ đi

trắng đôi mắt , thiên cổ gì?

đục con tim , hóa cuồng si lạnh lùng

sương thu giăng kín cổ tùng

người trần khôn gặp trong khung Tăng già

gió ngừng trăng lặn đáy xa

Rùa  mù chấp cánh theo đà bay cao

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Ghi chú:

(1) Tỳ kheo Thích Minh Châu , Đức Phật Của Chúng Ta (Trang nhà Suối Nguồn Hạnh Phúc của chùa Vinh Phúc Quan Độ : http://suoinguonhanhphuc.com/InfoShow.aspx?InfoID=351) :



Trong kinh Tương Ưng V, đức Phật đã dạy: “Ví như này các Tỳ kheo, một người quăng một khúc gỗ có một lỗ hổng vào biển lớn. Tại đấy có con rùa mù, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần. Các ngươi nghĩ thế nào, này các Tỳ kheo. Con rùa ấy, sau mỗi trăm năm, nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc cây có một lỗ hổng hay không?”

“Năm khi mười họa may ra có thể được, bạch Thế Tôn, sau một thời gian dài”.

“Ta tuyên bố rằng còn mau hơn, này các Tỳ kheo, là con rùa mù ấy, sau mỗi trăm năm nổi lên một lần, có thể chui cổ vào khúc gỗ có lỗ hổng ấy. Còn hơn kẻ ngu, khi một lần đã rơi vào đọa xứ, để được làm người trở lại. Vì cớ sao? Vì rằng ở đấy không có pháp hành, chánh hành, thiện nghiệp, phước nghiệp. Ở đấy, này các Tỳ kheo, chỉ có ăn thịt lẫn nhau, và chỉ có kẻ yếu bị ăn thịt..” (Tương Ưng V, 485)

“Thật khó được vậy, này các Tỳ kheo, là được làm người. Thật khó được vậy, này các Tỳ kheo, là được Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh đẳng giác, thật khó được vậy, này các Tỳ kheo, là Pháp và Luật này do Thế Tôn thuyết giảng, chiếu sáng trên đời.” (Tương Ưng V, 450 – 460).

(2) Vô Môn Quan, tắc 37, Đình Tiền Bách Thụ.

Một ông tăng hỏi Thiền Sư Triệu Châu:
– Ý của Tổ Sư (Đạt Ma) từ Tây sang là gì ? ( Hán : Như hà thị Tổ Sư Tây lai ý ?)
Triệu Châu đáp:
– Cây bách trước sân (Hán: Đình tiền bách thụ tử).

Lời bình của Vô Môn Huệ Khai :
Nếu nhằm vào lời đáp của Triệu Châu mà thấy được thì trước không có Thích Ca, sau không có Di Lặc (Hán: tiền vô Thích Ca, hậu vô Di Lặc)

(3) D.T. Suzuki, Thiền Luận, quyển Thượng, bản dịch tiếng Việt của Trúc Thiên, tr. 501-503:



Quan tướng quốc Bùi Hưu khi còn làm thứ sử Tây An có lần đến viếng một kiểng chùa, vào chánh điện dâng hương cúng Phật. Chủ chùa tiếp đón. Bùi thấy trên tường có một bức họa bèn hỏi hình ai. Ông chủ chùa bảo đó là chân dung một cao tăng. Bùi hỏi: “Chân dung đây còn cao tăng đâu?”
Tăng chúng không đáp. Bùi lại hỏi: “Trong đây có Thiền nhân nào không?”
Đáp: “Gần đây có một người đến ở chung, hiện lo việc tạp dịch, ông ta có vẻ là người Thiền lắm”.
Bùi nói: “Xin mời ra cho tôi hỏi thăm chút được không?”
Ông sư mới (*) liền được thỉnh ra trước mặt quan tướng quốc.
Bùi vừa thấy liền hớn hở lên tiếng ngay:
“Hưu tôi có một điều muốn hỏi, ngặt chư vị đây không đáp, vậy thỉnh đại nhân ban cho một lời”.
Sư hỏi: Mời tướng công cứ hỏi.
Hưu lặp lại câu nói trên: “Còn cao tăng đâu?”
Sư hét chát chúa:
– Bùi Hưu ?
– Dạ !
Sư lặp lại câu hỏi: Còn cao tăng đâu?
Bùi Hưu tức khắc dưới câu phản vấn nhận ra ý chỉ Thiền như bắt được ngọc kế châu.

(*) Hoàng Bá Hy Vận, pháp từ của Bách Trượng Hoài Hải và là thầy của Bùi Hưu sau này

Nguyệt hạ độc chước 2,3,4

Nguyệt hạ độc chước kỳ 2

月下獨酌其二

天若不愛酒,
酒星不在天。
地若不愛酒,
地應無酒泉。
天地既愛酒,
愛酒不愧天。
已聞清比聖,
復道濁如賢。
賢聖既已飲,
何必求神仙。
三杯通大道,
一斗合自然。
但得酒中趣,
勿為醒者傳。

Nguyệt hạ độc chước kỳ 2

Thiên nhược bất ái tửu,
Tửu tinh bất tại thiên.
Địa nhược bất ái tửu,
Địa ưng vô tửu tuyền.
Thiên địa ký ái tửu,
Ái tửu bất quý thiên.
Dĩ văn thanh tỷ thánh,
Phục đạo trọc như hiền.
Hiền thánh ký dĩ ẩm,
Hà tất cầu thần tiên.
Tam bôi thông đại đạo,
Nhất đấu hợp tự nhiên.
Đản đắc túy trung thú,
Vật vi tỉnh giả truyền.

Lý Bạch
—-
(Phỏng dịch lục bát)

Nếu trời không thích rượu cay
thì thôi rượu chẳng thế bày cửa Thiên ?
nhược bằng đất cũng chắng duyên
rượu không thành suối qua miền trần ai ?
đất trời thích rượu cùng say
nên thích rượu ,chẳng thẹn mày bề trên
nghe lòng trong, tựa Thánh Tiên
nói câu đục ,ấy bậc hiền đời nay
Thánh ,hiền cùng uống rượu cay
cầu chi thần , khác cõi này với ta
vào ba ly , đạo mở ra
cạn nguyên hủ , tự nhiên là hợp thôi
tìm vui trong thú say bồi
còn hơn tỉnh , để tiếng đời về sau

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Tue Mar 18, 2008 4:04 pm

Nguyệt hạ độc chước kỳ 3

月下獨酌其三

三月咸陽城,
千花晝如錦。
誰能春獨愁,
對此徑須飲。
窮通與修短,
造化夙所稟。
一樽齊死生,
萬事固難審。
醉後失天地,
兀然就孤枕。
不知有吾身,
此樂最為甚。

Nguyệt hạ độc chước kỳ 3

Tam nguyệt Hàm Dương thành,
Thiên hoa trú như cẩm.
Thùy năng xuân độc sầu,
Đối thử kính tu ẩm.
Cùng thông dữ tu đoản,
Tạo hoá túc sở bẩm.
Nhất tôn tề tử sinh,
Vạn sự cố nan thẩm.
Túy hậu thất thiên địa,
Ngột nhiên tựu cô chẩm.
Bất tri hữu ngộ thân,
Thử lạc tối vi thậm.

(Phỏng dịch lục bát)

Hàm Dương ba tháng đẳng dài
trăm hoa như gấm thêu ngoài phố đông
xuân sao sầu vướng cõi lòng
nên đành mượn rượu uống chồng để say
tạo hoá chừng đã sẳn bày
một lần sống chết chén này mà thôi
mặc đời muôn sự buông trôi
khi say quên cả đất trời mới say
lăn đùng ôm gối ngủ ngay
thân mình chẳng biết có đày đoạ đâu ?
nỗi vui chẳng thế nào hơn

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Wed Mar 19, 2008 1:49 pm

Nguyệt hạ độc chước kỳ 4

Cùng sầu thiên vạn đoan,
Mỹ tửu bách tam bôi.
Sầu đa tửu tuy thiểu,
Tửu khuynh sầu bất lai.
Sở dĩ tri tửu thánh,
Tửu hàm tâm tự khai.
Từ túc ngọa Thú Dương,
Lũ không cơ Nhan Hồi.
Đương đại bất lạc ẩm,
Hư danh an dụng tai.
Giải ngao tức kim dịch,
Tao khâu thị Bồng Lai.
Thả tu ẩm mỹ tửu,
Thừa nguyệt túy cao đài.

Lý Bạch

(phỏng dịch lục bát)

Sầu dâng nghìn mối đa đoan
trăm ly rượu quý hãy còn dậy hương
buồn nhiều , rượu ít thói thường
nghiêng bình cạn đáy sầu vương nơi nào ?
lần ra biết rượu tiên đào
uống say lòng mở ngõ vào tự tâm
Thú Dương thóc chẳng nhận ,cầm
Nhan Hồi thà chịu đói mòn khó ưng
đương thời không uống rượu mừng
mặc cho danh ảo vẫn còn đọng mang
tôm cua mồi ấy là vàng
nem công đích thực thuộc hàng Bồng Lai
rượu ngon rót uống dài dài
mượn trăng say cỡi qua đài cao đây

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Thu Mar 20, 2008 12:40 pm

Trường Tương Tư

Nhật sắc dục tận hoa hàm yên
Nguyệt minh như tố sầu bất miên
Triệu sắt sơ đình phụng hoàng trụ
Thục cầm dục tấu uyên ương huyền
Thử khúc hữu ý vô nhân truyền
Nguyện tuỳ xân phong ký Yên Nhiên
Ức quân thiều thiều cách thanh thiên
Tích thì hoành ba mục
Kim tác lưu lệ tuyền
Bất tín thiếp trường đoạn
Qui lai khán thủ minh kính tiền

Lý Bạch

Dịch Nghĩa:

Trường Tương Tư

Mặt trời sắp tắt, hoa ngậm khói sương
Trắng sáng như lụa, nỗi sầu không sao ngủ được
Đàn sắt Triệu vừa ngừng dây phụng hoàng
Đàn cầm Thục đã dục tấu khúc uyên ương
Khúc này có ý nghĩa sao không có ai lưu truyền?
Mong theo ngọn gió xuân gửi đến Yên Nhiên
Nhớ chàng nơi xa cách trời xanh
Xưa thì mắt đưa ngang làn sóng
Nay thành suối lệ tuôn rơi
Không tin thiếp buồn đứt ruột
Xin [chàng] hãy về mà ngắm trong tấm gương sáng.

Nhớ Nhau Hoài

Trường Tương Tư ( * lục bát phỏng dịch )

Hoa chiều quyện bóng tà dương
lụa trăng dỗ giấc, sầu vương không tròn
Đàn tranh ngưng tấu phụng hoàng **
đàn cầm khởi khúc Uyên Ương đi liền ***
nhạc hay chớ để thất truyền ?
gió xuân mong gởi đến Yên Nhiên cùng
nhớ chàng xa cách nghìn trùng
xưa trong sóng mắt có làn thu ba
nay thành suối lệ nhạt nhoà
ở trong thương nhớ ruột sa đoạn trường
không tin (chàng) trở lại phố phường
soi mình phía trước tấm gương thấy liền

** xin tạm dịch chữ Triệu sắt là đàn tranh
*** và chữ Thục cầm là đàn cầm

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Tue Mar 18, 2008 1:20 pm

Xuân Dạ Túy

Đêm Xuân Say **

春 夜 醉
夜 息 懣 滔 天,
燈 殘 客 未 眠.
孤 風 纏 獨 樹,
破 葉 聚 荒 田.
老 燕 懷 亡 侶,
狂 鴉 泣 故 園.
舉 杯 愁 更 漫,
醉 臥 看 新 年.
陳文良

Âm Hán Việt:

Xuân Dạ Túy

Dạ tức, muộn thao thiên,
Đăng tàn, khách vị miên.
Cô phong triền độc thụ,
Phá diệp tụ hoang điền.
Lão yến hoài vong lữ,
Cuồng nha khấp cố viên.
Cử bôi, sầu cánh mạn,
Túy ngọa khán tân niên.

Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Đêm Xuân Say

Đêm yên nghỉ, nỗi buồn bã ngập trời,
Đèn tàn, khách chưa ngủ.
Ngọn gió cô độc quấn quít quanh cây lẻ loi,
Lá rách tụ họp ở đồng hoang.
Con én già nhớ người bạn đã mất,
Con quạ điên thương khóc vườn cũ.
Nâng chén lên, nỗi sầu càng thêm đầy tràn,
Say nằm nhìn năm mớị

Phỏng dịch thơ:

Đêm Xuân Say

Đêm sâu phiền muộn dâng lên đầy
Chưa ngủ dần tàn ngọn nến lay
gió lạc cô sầu ôm nhánh lẻ
Ruộng hoang lá nát đọng bờ đây
Én già buồn nhơ’ bạn xưa mất
Cuồng Quạ khóc thương vườn cũ thay
Nâng chén sầu tràn ngang đáy cốc
Nhìn Xuân chưa đến đã lăn say

** Xin mạn phép phỏng dịch bài thơ Đêm Xuân say của Trần Văn Lương

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Thu Feb 14, 2008 2:46 pm

Đăng Nhạc Dương Lâu

登  岳  陽  樓

 

昔  聞  洞  庭  水

今  上  岳  陽  樓

吳  楚  東  南  坼

乾  坤  日  夜  浮

親  朋  無  一  字

老  病  有  孤  舟

戎  馬  關  山  北

憑  軒  涕  泗  流

 

杜  甫

 

 

Đăng Nhạc Dương Lâu  

 

Tích văn Động Đình thủy  

Kim thượng Nhạc Dương lâu  

Ngô Sở đông nam sách 

Càn khôn nhật dạ phù  

Thân bằng vô nhất tự 

Lão bệnh hữu cô chu 

Nhung mả quan san bắc 

Bằng hiên thế tứ lưu 

 

Đỗ Phủ

 ————

 

 

Lên lầu Nhạc Dương

(phỏng dịch — lục bát)

 

Đã nghe tiếng Động Đình hồ

đến nay mới được lên lầu Nhạc Dương

đông Ngô, nam Sở hai đường

theo vòng trời đất ngày đêm đổi dời

tin thân chẳng có một lời

để già bịnh chỉ có trời với ghe

giặc nơi phía bắc hăm he

ra đứng bên hè nước mắt chứa chan

 

Ngày 12 /12/07

 Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Hắc Lệ

黑 淚
茶 寒 餐 餲 待 春 來,
鄰 里 黃 花 已 滿 開.
酒 酌 杯 中 埋 白 髮,
壺 乾 黑 淚 渥 香 炱.
陳文良

Âm Hán Việt:

Hắc Lệ

Trà hàn, xan ế, đãi Xuân lai,
Lân lý hoàng hoa dĩ mãn khai.
Tửu chước, bôi trung mai bạch phát,
Hồ can, hắc lệ ác hương đài.
Trần Văn Lương

Dịch nghĩa:

Lệ Đen

Trà đã nguội lạnh, đồ ăn đã ôi, (người) đợi Xuân tới,
Hoa vàng hàng xóm đã nở rộ.
Rượu rót xong, vùi chôn tóc trắng trong ly,
Bầu cạn, lệ đen thấm ướt tro nhang.

 

phỏng dịch

 

Cơm thiu , trà lạnh chờ xuân

hoa vàng bên xóm nở lần cánh xinh

rượu mâm sợi bạc tóc mình

cạn bầu lệ đắng thấm bình tro hương

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Nguyệt hạ độc chước (Thơ dịch)

Hoa gian nhất hồ tửu,
Ðộc chước vô tương thân .
Cử bôi yêu minh nguyệt,
Ðối ảnh thành tam nhân .
Nguyệt ký bất giải ẩm,
Ảnh đồ tùy ngã thân .
Tạm bạn nguyệt tương ảnh,
Hành lạc tu cập xuân .
Ngã ca nguyệt bồi hồi,
Ngã vũ ảnh linh loạn .
Tỉnh thời đồng giao hoan,
Túy hậu các phân tán .
Vĩnh kết vô tình du,
Tương kỳ mạc Vân Hán .

Lý Bạch

Phỏng dịch

Dưới trăng uống rượu một mình

Một bầu rượu ở vườn hoa
rót mời chỉ có riêng ta tự tình
nâng lên cạn chén – trăng xinh
bóng hòa với rượu cộng mình là ba
như trăng chưa biết say ngà
dáng người vẫn phải theo ta đổ dài
bóng – trăng bạn tạm trần ai
niềm vui tận hưởng cho dài tuổi xuân
lời ca trăng đón bâng khuâng
lung linh điệu vũ ngại ngần bóng rơi
chung nhau khi tỉnh tiếng cười
đến khi say khước tạm thời cách nhau
vô tình kết chặt tình vào
lấy miền Vân Hán hẹn nhau xa mờ

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn

Cảm ngộ 2 (Phỏng dịch)

Tứ thủ chi nhị

Lan diệp xuân uy nhuy,
Quế hoa thu hiệu khiết .
Hân hân thử sinh ý,
Tự nhĩ vi giai tiết .
Thùy tri lâm thê giả,
Văn phong tọa tương duyệt .
Thảo mộc hữu bổn tâm,
Hà cầu mỹ nhân chiết .

Trương Cửu Linh

(Phỏng dịch)

Xuân – Lan cành lá mượt mà
Quế- Thu trắng nõn thật là tinh khôi
Vui tươi ý sống đây rồi
từ thời tiết đẹp đâm chồi hân hoan
Như người sống tận non ngàn
tâm tư khoan khái nghe làn gió reo
cỏ cây cũng có tình theo
đâu cần người đẹp (băng đèo) hái hoa .

Huỳnh Vũ Hoàng Tuấn
Ngày 9 tháng 9 năm 2004

Previous Older Entries Next Newer Entries